Top 6 Bài soạn “Chuẩn bị hành trang vào thế kỉ mới” của Vũ Khoan lớp 9 hay nhất

09-09-2020 6 32 0 0

Báo lỗi

Vũ Khoan được biết đến là một nhà chính trị và ngoại giao xuất sắc của Việt Nam. Ông là Phó Thủ tướng phụ trách kinh tế đối ngoại Việt Nam từ tháng 8 năm 2002 đến cuối tháng 6 năm 2006. Với rất nhiều những đóng góp của tớ cho nền ngoại giao vương quốc, ông được Nhà nước trao tặng Huân chương Độc lập hạng Nhất, hai Huân chương Lao động hạng Nhì. Bài viết “Chuẩn bị hành trang vào thế kỉ mới” đăng trên tạp chí Tia sáng năm 2001, in trong tập Một góc nhìn của trí thức, NXB Trẻ, Thành phố HCM, 2002. Tác phẩm đã nêu ra comment cụ thể về những điểm mạnh, điểm yếu trong tính cách và thói quen của người Việt Nam, từ đó, đưa ra những yêu cầu, đòi hỏi con người Việt Nam phải khắc phục điểm yếu để bước vào thế kỉ mới. Mời những bạn tìm hiểu thêm một số bài soạn hay nhất Toplist đã tổng hợp trong bài viết sau để hiểu và chuẩn bị tốt nội dung tiết học.

123456

1


Bình An

Bài soạn “Chuẩn bị hành trang vào thế kỉ mới” số 1

Bố cục

Phần 1 (từ đầu… càng nổi trội): Chuẩn bị hành trang vào thế kỉ mới

Phần 2 (tiếp… điểm yếu của nó): Yêu cầu, thử thách của thời đại

Phần 3 (tiếp … hội nhập): Điểm mạnh, yếu của người Việt

Phần 4 (sót lại):

Câu 1 (Trang 30 sgk ngữ văn 9 tạp 2)

Tác giả viết bài này Vào thời điểm đầu năm mới 2001 khi chuyển giao hai thế kỉ của toàn trái đất, với việt nam tiếp bước công cuộc đổi mới từ cuối thế kỉ trước

– Vấn đề: chuẩn bị hành trang vào thế kỉ mới→ có tính thời sự, có ý nghĩa sâu sắc với sự phát triển lâu dài, hội nhập của giang sơn

– Nhiệm vụ: nhìn nhận hạn chế để khắc phục, bắt kịp thời đại. Đưa giang sơn thoát khỏi đói nghèo, lỗi thời, đẩy mạnh, công nghiệp hóa, hiện đại hóa giang sơn.

Câu 2 (trang 30 sgk ngữ văn 9 tập 2)

Trình tự lập luận của tác giả:

– Chỉ ra sự thiết yếu trong nhận thức của người trẻ về cái mạnh, yếu của người Việt Nam

– Phân tích đặc trưng con người Việt (điểm mạnh, yếu, mặt đối lập)

– Con người Việt Nam tự thay đổi, hoàn thiện để hội nhập với toàn cầu

Câu 3 (trang 30 sgk ngữ văn 9 tập 2)

Tác giả cho rằng “sự chuẩn bị bản thân con người là quan trọng nhất”

– Máy móc, những yếu tố khác có tân tiến tới đâu cũng là sản phẩm do con người sáng tạo, không thể thay thế con người

– Trong nền kinh tế tri thức, sự nhạy bén của con người vẫn quyết định sự phát triển của xã hội

Câu 4 (Trang 30 sgk ngữ văn 9 tập 2)

Điểm mạnh yếu của con người Việt Nam tác động tới nhiệm vụ giang sơn:

– Thông minh nhạy bén cái mới, thiếu kỹ năng và kiến thức cơ bản, kém khả năng thực thành → Không thích ứng với nền kinh tế mới

chịu khó sáng tạo, thiếu tỉ mỉ, không coi trọng quy trình → tác động nặng nề phương thức sản xuất nhỏ, thôn quê

– Đoàn kết, đùm bọc trong chiến đấu nhưng đố kị trong làm ăn, cuộc sống → tác động tới giá trị đạo đức, giảm đi sức mạnh, tính link

– Thích ứng nhanh dễ hội nhập, nhưng kì thị trong Marketing, thói khôn vặt, khôn lỏi → Cản trở Marketing, hội nhập

Câu 5 (trang 30 sgk ngữ văn 9 tập 2)

Nhận xét tác giả với sách lịch sử, văn học:

+ Giống: phân tích, nhận xét điểm mạnh người Việt: thông minh, chịu khó, sáng tạo, đoàn kết trong chiến đấu…

+ Khác: phê phán khuyết điểm, hạn chế, kĩ năng thực hành, đố kị, khôn vặt

– Thái độ người viết: khách quan khoa học, chân thực, đúng đắn

Câu 6 (trang 30 sgk ngữ văn 9 tập 2)

Những câu thành ngữ được sử dụng: nước đến chân mới nhảy, liệu cơm gắp mắm, bóc ngắn cắn dài, trâu buộc ghét trâu ăn

– Tục ngữ có tính chân xác bởi được đúc rút từ kinh nghiệm của cha ông thế hệ trước

→ Giúp bài viết trở thành sinh động, gần gũi, dễ hình dung hơn.

Ảnh minh họa (Nguồn internet)
Ảnh minh họa (Nguồn internet)


2


Bình An

Bài soạn “Chuẩn bị hành trang vào thế kỉ mới” số 2

kỹ năng và kiến thức cơ bản

1. Người Việt Nam chúng ta có nhiều phẩm chất đẹp đẽ, đó là lòng yêu nước, là đức tính chịu khó, dũng cảm, là tinh thần “lá lành đùm lá rách nát”, “thương người như thể thương thân”… Đó là những phẩm chất không ai rất có thể phủ nhận bởi chúng đã được kiểm nghiệm và khẳng định trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc. Tuy nhiên, không ai rất có thể toàn vẹn, cùng với những phẩm chất cần luôn được phát huy, người Việt Nam chúng ta vẫn có những mặt hạn chế phải sửa đổi. Nhận thức được những mặt mạnh để phát huy, đồng thời cũng nhận thức được những mặt còn yếu kém cần khắc phục là điều hết sức thiết yếu để mỗi con người nói riêng và xã hội Việt Nam nói chung vươn lên tự hoàn thiện mình, không ngừng tiến bộ để đáp ứng những yêu cầu mới của lịch sử giang sơn.

2. Bài viết của Phó Thủ tướng Vũ Khoan trong lượt mở đầu thế kỉ mới đã nêu ra một cách chính xác và kịp thời những vấn đề thiết thực đối với con người Việt Nam, đặc biệt là thế hệ trẻ, lực lượng quyết định sự thành công của công cuộc xây dựng giang sơn trong thế kỉ mới.

3. Bố cục bài Chuẩn bị hành trang vào thế kỉ mới

– Phần 1: từ đầu… sâu rộng hơn nhiều: Nêu ra nguyên nhân cần chuẩn bị hành trang và vai trò của con người trong thiên niên kỉ mới

– Phần 2: tiếp theo…. Marketing và hội nhập: Những điểm mạnh, điểm yếu của con người Việt Nam.

– Phần 3: đoạn sót lại: Khẳng định vai trò của việc chuẩn bị hành trang đối với thế hệ trẻ.


Đọc – hiểu văn bản

Câu 1 – Trang 30 SGK

Tác giả viết bài này trong thời điểm nào của lịch sử? Bài viết đã nêu vấn đề gì? ý nghĩa sâu sắc thời sự và ý nghĩa sâu sắc lâu dài của vấn đề ấy.

Những yêu cầu, nhiệm vụ hết sức to lớn và cấp bách đang đưa ra cho giang sơn ta, cho thế hệ trẻ hiện nay là gì?

reply

– Thời điểm phát hành của bài viết: Năm 2001 là thời điểm chuyển tiếp từ thế kỉ XX sang thế kỉ XXI, mang ý nghĩa sâu sắc đặc biệt vì là năm chuyển giao giữa hai thế kỉ, trước giữa hai thiên niên kỷ. Công cuộc đổi mới ở việt nam vào cuối thế kỉ trước đã đạt được một số thành quả vững chắc.

– Bài viết nêu vấn đề: Bước sang thế kỷ mới, dân tộc ta đứng trước những yêu cầu và nhiệm vụ to lớn là đưa giang sơn đi vào giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa, vượt qua tình trạng chậm phát triển, nghèo nàn, lỗi thời để trở thành một nước công nghiệp vào thời điểm năm 2020. Đặc biệt đối với thế hệ trẻ, chính họ là lực lượng quyết định cho công cuộc xây dựng giang sơn ở thế kỉ mới. → Tính thời sự nóng hổi, có ý nghĩa sâu sắc lâu dài với sự phát triển hội nhập của giang sơn.

– Nhiệm vụ của thế hệ trẻ: nhìn nhận những hạn chế cần khắc phục để không bị tụt hậu và bắt kịp bước đi của thời đại. Đưa giang sơn thoát khỏi đói nghèo, lỗi thời, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, tiếp cận nền kinh tế tri thức.


Câu 2 – Trang 30 SGK

Hãy đọc lại cả bài và lập dàn ý theo trình tự lập luận của tác giả.

reply

a) Mở bài

– Để bước vào thế kỉ mới, lớp trẻ Việt Nam cần nhận thấy cái mạnh, cái yếu của tớ, để rèn luyện những thói quen tốt, thích ứng với đà phát triển của trái đất.

b) Thân bài

– Tết Tân Tị là thời gian chuyển tiếp của hai thế kỉ và hai thiên niên kỉ.

– Con người là động lực phát triển của lịch sử, không gì bằng ta hãy chuẩn bị hành trang cho con người.

– trái đất đang phát triển nhanh gọn về khoa học công nghệ thông tin, chúng ta cần thật nhiều nỗ lực mới hội nhập được vào nền kinh tế và văn hoá trái đất. Người Việt chúng ta có mặt mạnh, mặt yếu. Cần phát huy mặt mạnh, hạn chế mặt yếu mới hội nhập được vào nền kinh tế trái đất.

– Muốn hội nhập vào nền kinh tế trái đất phải giải quyết 3 nhiệm vụ:

Thoát khỏi cảnh nghèo nàn, lỗi thời của nền kinh tế cũ.
Đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá
Cần phát huy mặt mạnh, hạn chế mặt yếu của người Việt Nam.
– Cái mạnh của người Việt ta là thông minh, nhạy bén với cái mới.

– Điểm yếu của chúng ta là những lỗ hổng về kỹ năng và kiến thức do lối học vẹt, học chay

– Tuy có chịu khó nhưng chúng ta thiếu tỉ mỉ. Trong lúc ấy người Nhật cũng chịu khó nhưng còn biết tính toán cẩn trọng. Chúng ta thiếu lo xa, “nước đến chân mới nhảy”.

– tác động phong thái làm ăn cũ, chúng ta thiếu khẩn trương, thiếu tôn trọng những quy định nghiêm ngặt của công việc…

– Chúng ta cần tăng cường đoàn kết, bỏ thói đố kị, nhỏ nhen, khôn vặt, không coi trọng chữ tín trong thời đại in – tơ – nét toàn cầu như ngày nay.

c) Kết bài

– Mỗi người cần cố gắng rèn điểm mạnh, bỏ điểm yếu nếu muốn “sánh vai cùng những cường quốc năm châu”.


Câu 3 – Trang 30 SGK

Trong bài này, tác giả cho rằng: “Trong những hành trang ấy, có lẽ sự chuẩn bị bản thân con người là quan trọng nhất”. Điều đó đúng không, vì sao?

reply

– Để chuẩn bị hành trang vào thế kỉ mới, việc chuẩn bị bản thân con người là quan trọng nhất. Đây là luận cứ quan trọng mở đầu, có ý nghĩa sâu sắc đặt vấn đề.

– Mở ra hướng lập luận cho toàn bài.

– Những lí lẽ xác minh cho luận cứ này:

• Từ cổ chí kim, lúc nào con người cũng là động lực phát triển của lịch sử.

• Trong thế kỉ mà nền kinh tế tri thức sẽ phát triển mạnh mẽ thì vai trò con người lại càng nổi trội.


Câu 4 – Trang 30 SGK

Tác giả đã nêu ra và phân tích những điểm mạnh, điểm yếu nào trong tính cách, thói quen của người Việt Nam qua? Những điểm mạnh, điểm yếu ấy có quan hệ ra làm sao với nhiệm vụ đưa giang sơn đi lên công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong thời đại ngày nay?

reply

a) Những điểm mạnh, điểm yếu của ta:

– Thông minh, nhạy bén với cái mới nhưng thiếu kỹ năng và kiến thức cơ bản, kém khả năng thực hành, sức sáng tạo bị hạn chế do lối học nặng về lí thuyết.

– chịu khó, sáng tạo nhưng thiếu tính tỉ mỉ, vẫn chưa tồn tại thói quen coi trọng nghiệm ngặt quy trình công nghệ, vẫn chưa quen với cường độ khẩn trương.

– Đoàn kết, đùm bọc nhất là trong công trận đánh đấu chống ngoại xâm nhưng lại thường đố kị trong việc làm ăn, trong lối sống.

– Thích ứng nhanh giúp ta tận dụng thời điểm đối phó với thử thách, đối với quy trình hội nhập nhưng kì thị Marketing, quen bao cấp, khôn vặt, không coi trọng chữ tín trong Marketing.

b) Những điểm mạnh, điểm yếu nêu trên có quan hệ đến nhiệm vụ đưa giang sơn đi lên công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong thời đại ngày nay. Nhận thức được điều đó, chúng ta cũng rất có thể lấp đầy hành trang bằng những điểm mạnh, vứt bỏ những điểm yếu.

Lớp trẻ là những người làm chủ giang sơn trong thế kỉ XXI phải nhận thức điều đó đã tạo ra những thói quen đẹp đẽ ngay từ những việc nhỏ nhất.


Câu 5 – Trang 30 SGK
Em đã học và đọc nhiều tác phẩm văn học và những bài học lịch sử nói về những phẩm chất truyền thống đẹp đẽ của dân tộc Việt Nam, con người Việt Nam. Những nhận xét của tác giả có gì giống và có điểm gì khác với những điều mà em đã đọc được trong cách sách vở nói trên? Thái độ của tác giả ra làm sao khi nêu những nhận xét này?
reply
– Trước đây, ta thường thiên về khẳng định những điểm mạnh của những phẩm chất đẹp đẽ của dân tộc, của con người Việt Nam. Tuy nhiên, nếu chỉ nhìn những chỗ mạnh mà bỏ qua những chỗ yếu kém sẽ dễ ngộ nhận, tự tôn vinh quá mức, có tâm lí tự mãn. Tâm lí này cản trở sự vươn lên phát triển giang sơn.
– Thái độ của tác giả là biết nhìn nhận vấn đề một cách khách quan, toàn diện, khẳng định và trân trọng những phẩm chất đẹp đẽ, đồng thời thẳng thắn nêu lên những mặt yếu kém, không tự tôn hoặc tự ti dân tộc.

Câu 6 – Trang 30 SGK
Trong văn bản, tác giả sử dụng nhiều thành ngữ, tục ngữ. Hãy tìm những thành ngữ, tục ngữ ấy và cho biết ý nghĩa sâu sắc, tác dụng của chúng.
reply
– Thành ngữ, tục ngữ được sử dụng
• Nước đến chân mới nhảy.
• Liệu cơm gắp mắm.
• Nhiễu điều phủ lấy giá gương.
• Trâu buộc ghét trâu ăn.
• Bóc ngắn cắn dài.
– Đề cập đến những vấn đề vừa có ý nghĩa sâu sắc thời sự cấp thiết vừa có ý nghĩa sâu sắc lâu dài, tác giả vẫn không dùng cách nói theo kiểu sách vở, uyên bác, mà bằng phương pháp diễn đạt giản dị, thiết thực, dựa trên cơ sở thực tiễn, ai cũng rất có thể cảm nhận được, lại cảm nhận sâu sắc. Những thành ngữ, tục ngữ được sử dụng trong bài đã góp phần thể hiện cách nói trên.

Ảnh minh họa (Nguồn internet)
Ảnh minh họa (Nguồn internet)

3


Bình An

Bài soạn “Chuẩn bị hành trang vào thế kỉ mới” số 3

I. Vài nét về tác giả
– Vũ Khoan (sinh vào năm 1937)
– Quê quán: huyện Phú Xuyên, Hà Tây (nay thuộc thành phố Hà Thành)
– Cuộc đời và sự nghiệp:
+ Vũ Khoan được biết đến là một nhà chính trị và ngoại giao xuất sắc của Việt Nam
+ Ông từng bắt đầu công việc ngoại giao cho vương quốc từ 1956 với công việc phiên dịch
+ Năm 1990, ông làm Thứ trưởng Bộ ngoại giao
+ Từ 28 tháng 1 năm 2000 đến ngày 8 tháng 8 năm 2002 ông làm Bộ trưởng Bộ Thương mại
+ Ông là Phó Thủ tướng phụ trách kinh tế đối ngoại Việt Nam từ tháng 8 năm 2002 đến cuối tháng 6 năm 2006
+ Với rất nhiều những đóng góp của tớ cho nền ngoại giao vương quốc, ông được Nhà nước trao tặng Huân chương Độc lập hạng Nhất, hai Huân chương Lao động hạng Nhì

II. Tác phẩm
1. Hoàn cảnh sáng tác
– Bài viết này đăng trên tạp chí Tia sáng năm 2001, in trong tập Một góc nhìn của trí thức, NXB Trẻ, Thành phố HCM, 2002
1. Hoàn cảnh sáng tác
– Phần 1 từ đầu đến “thiên niên kỷ mới”: Sự chuẩn bị bản thân con người là sự chuẩn bị quan trọng nhất trong hành trang bước vào thế kỉ mới
– Phần 2: tiếp theo cho tới “Marketing và hội nhập”: Tình hình trái đất và những nhiệm vụ của giang sơn
– Phần 3: tiếp theo cho tới hết. Những điểm manh, điểm yếu của con người Việt Nam và nhiệm vụ của con người khi bước vào thế kỉ mới
3. Giá trị nội dung
– Tac phẩm đã nêu ra comment cụ thể về những điểm mạnh, điểm yếu trong tính cách và thói quen của người Việt Nam, từ đó, đưa ra những yêu cầu, đòi hỏi con người Việt Nam phải khắc phục điểm yếu để bước vào thế kỉ mới
4. Giá trị nghệ thuật
– Bài viết đưa ra vấn đề nóng hổi, cấp thiết với cách nhìn nhận khách quan phối hợp với lí lẽ lập luận giản dị, chặt chẽ và thái độ tôn trọng đối tượng, tinh thần trách nhiệm của tác giả. Việc sử dụng ngôn ngữ báo chí gắn với ngôn ngữ sinh hoạt đời thường, cách nói giản dị, dễ hiểu, sử dụng nhiều thành ngữ, tục ngữ sinh động, cụ thể và hàm súc cũng là những nét tiêu biểu về nghệ thuật của tác phẩm


Câu 1. Tác giả viết văn bản này trong thời điểm và hoàn cảnh nào của giang sơn ? Từ đó nêu ý nghĩa sâu sắc cấp thiết của vấn đề mà bài báo này đưa ra.

reply:

Đọc lại văn bản và chú thích (★) ở trang 29, trong SGK Ngữ Văn 9, tập hai, để nắm được thời điểm và hoàn cảnh giang sơn khi Vũ Khoan viết bài báo này. Từ đó thấy được ý nghĩa sâu sắc cấp thiết của vấn đề mà tác giả nêu ra để bàn luận. Tính cấp thiết của một vấn đề rất cần phải đánh giá ít nhất là ở hai phương diện sau :

– Tính kịp thời hay tính thời sự của vấn đề.

– Tầm quan trọng, sự thiết yếu hay tính thiết yếu của vấn đề.


Câu 2. Vấn đề cơ bản của văn bản nghị luận này đã được nêu ra trong câu văn nào ? Để triển khai vấn đề ấy, tác giả đã đưa ra hệ thống luận điểm ra làm sao ? Đánh giá hệ thống luận điểm ấy (có chặt chẽ, chính xác, toàn diện không).

reply:

Đọc lại phần mở đầu để tìm ra câu văn chứa đựng vấn đề cơ bản của bài báo. Hệ thống luận điểm để triển khai vấn đề cơ bản ấy như sau :

– Chuẩn bị hành trang vào thế kỉ mới thì quan trọng nhất là sự chuẩn bị bản thân con người.

– Bối cảnh của trái đất hiện nay và những mục tiêu, nhiệm vụ nặng nề của giang sơn.

– Những cái mạnh, cái yếu của con người Việt Nam rất cần phải nhận rõ khi bước vào giai đoạn công nghiệp hoá, hiện đại hoá giang sơn trong thế kỉ mới.

– Thế hệ trẻ cần chuẩn bị cho mình hành trang vào thế kỉ mới bằng phương pháp từ bỏ những điểm yếu, hình thành những thói quen tốt từ những việc nhỏ.

những luận điểm của tác giả không mang tính uyên bác, sách vở mà bám vào thực tiễn, vừa xác thực, vừa toàn diện, có cái nhìn khách quan về dân tộc mình, đồng thời lại đặt trong sự đối sánh với dân tộc khác, trong bối cảnh trái đất ngày nay.


Câu 3. Câu 3, trang 30, SGK.

Trong bài này, tác giả cho rằng: “Trong những hành trang ấy, có lẽ sự chuẩn bị bản thân con người là quan trọng nhất”. Điều đó có đúng không, vì sao ?

reply:

Đọc lại đoạn văn từ “Trong những hành trang ấy” đến “điểm mạnh và điểm yếu của nó”, tìm những luận cứ mà tác giả nêu ra để khẳng định sự chuẩn bị hành trang con người là quan trọng nhất. rất có thể bổ sung bằng những hiểu biết của em về vai trò quyết định của con người trong mọi vấn đề xã hội, kinh tế.


Câu 4. Phần chính của văn bản triệu tập nói về những điểm mạnh và điểm yếu của con người Việt Nam, đối chiếu với yêu cầu của công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá giang sơn. Bên cạnh việc khẳng định những điểm mạnh, tác giả còn đặc biệt quan tâm chỉ ra những điểm yếu của con người Việt Nam. Em hãy thống kê lại những điểm mạnh và điểm yếu mà tác giả nêu ra để làm rõ nhận xét trên.

Nhận xét về cách nêu điểm mạnh, điểm yếu và thái độ của tác giả.

reply:

Đọc lại đoạn văn từ “Cái mạnh của con người Việt Nam” đến “quy trình Marketing và hội nhập”.

Thống kê những điểm mạnh, điểm yếu của con người Việt Nam được tác giả nêu lên và nhận xét. để ý số lượng câu chữ mà tác giả dành để nói về những điểm yếu là nhiều hơn nữa hẳn số lượng câu chữ nói về những điểm mạnh.


Câu 5. Bài luyện tập 2, trang 31, SGK.

Em nhận thấy ở bản thân mình có những điểm mạnh và điểm yếu nào trong những điều tác giả đã nêu, và cả những điều tác giả vẫn chưa nói tới ? Nêu phương hướng khắc phục những điểm yếu.

reply:

Đối chiếu với những nhận xét của tác giả về điểm mạnh, điểm yếu của con người Việt Nam, rồi liên hệ với bản thân để thấy rõ cái mạnh, cái yếu của tớ.

rất có thể nêu cả những luận điểm mà tác giả vẫn chưa đưa ra trong bài báo. Đồng thời, cần đối chiếu với yêu cầu, nhiệm vụ học tập, rèn luyện của học viên lớp 9 và yêu cầu của một công dân trong tương lai đóng góp vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc để nhận rõ chỗ mạnh, chỗ yếu của tớ, đề ra phương hướng khắc phục điểm yếu.

Ảnh minh họa (Nguồn internet)
Ảnh minh họa (Nguồn internet)

4


Bình An

Bài soạn “Chuẩn bị hành trang vào thế kỉ mới” số 4

Bài tập 1: Tác giả viết bài này trong thời điểm nào của lịch sử? Bài viết đã nêu vấn đề gì? ý nghĩa sâu sắc thời sự và ý nghĩa sâu sắc lâu dài của vấn đề ấy. Những yêu cầu, nhiệm vụ hết sức to lớn và cấp bách đang đưa ra cho giang sơn ta thế hệ trẻ hiện nay là gì?

reply

Thời điểm lịch sử: sử: tác giả viết bài văn này Vào thời điểm đầu năm mới 2001, đây là thời điểm có ý nghĩa sâu sắc lịch sử đặc biệt sự chuyển giao giữa hai thiên niên kỉ ra mắt trên toàn trái đất. giang sơn ta đang bước vào giai đoạn công cuộc đổi mới.

Nội dung vấn đề: đề cập sự chuẩn bị hành trang cho mọi người đặc biệt là giới trẻ để giang sơn bước vào thế kỉ mới.

ý nghĩa sâu sắc: chuẩn bị hành trang để bước vào thế kỉ mới, đó là vấn đề không chỉ là có tính thời sự nóng hổi mà còn có ý nghĩa sâu sắc lâu dài đối với sự phát triển và hội nhập của giang sơn.

Yêu cầu nhiệm vụ đưa ra cho giang sơn ta và giới trẻ ngày nay là: phải nhìn nhận được những khuyết điểm những điểm mạnh và điểm yếu của bản thân mình để bản thân mình cố gắng hoàn thiện và sửa chữa hoàn thiện bản thân mình hơn để có cho mình nền tảng vững chắc vững tiến vào thế khỉ mới xây dựng bản thân và giang sơn ngày càng đi lên.


Bài tập 2:
Hãy đọc lại cả bài và lập dàn ý theo trình tự lập luận của tác giả?

reply

Trình tự lập luận của tác giả trong bài viết Chuẩn bị hành trang vào thế kỉ mới là:

Vai trò của nhận thức giới trẻ về những điểm mạnh điểm yếu của con người Việt Nam
Nêu những điểm mạnh điểm yếu của con người Việt Nam, phân tích những mặt tích cực, hạn chế của những đặc trưng ấy của con người Việt Nam
Sự thiết yếu của việc con người Việt Nam phải tự thay đổi mình, hoàn thiện mình để hội nhập với toàn cầu.

Bài tập 3: Trong bài này, tác giả cho rằng: “trong những hành trang ấy, có lẽ sự chuẩn bị bản thân con người là quan trọng nhất”. Điều đó có đúng không, vì sao?

reply

Điều đó là đúng đắn. Vì:

Con người là chủ nhân của giang sơn, mọi hoạt động kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội đều do con người xây dựng và phát triển nên. Điều đó có nghĩa, xã hội có vận hành, có tồn tại và phát triển được hay không đúng là tùy theo con người.

May móc, thiết bị hiện đại tới đâu cũng là do con người tạo ra để hỗ trợ, phục vụ cho cuộc sống của con người. Vì thế, chúng không thể nào thay thế được vị trí, vai trò của con người với sự vận động của xã hội


Bài tập 4:
Tác giả đã nêu ra và phân tích những điểm mạnh, điểm yếu nào trong tính cách, thỏi quen của người Việt Nam ta? Những điểm mạnh, điểm yếu ấy có quan hệ ra làm sao với nhiệm vụ đưa dất nước đi lên công nghiệp hoá hiện đại hoá trong thời đại ngày nay?

reply

Con người Việt Nam thông minh nhạy bén với cái mới, song lại hay bị những lỗ hổng kỹ năng và kiến thức do khuynh hướng thiên lệch bởi sự học chay, học vẹt, khả năng thực hành bị hạn chế, không khắc phục được điều này thì sẽ không thích ứng được với nền kinh tế mới.

Con người Việt Nam chịu khó, sáng tạo, tháo vát trong công việc, song lại thiếu sự cẩn trọng vẫn chưa tồn tại được thói quen tôn trọng những quy định của công việc là cường độ khẩn trương, chỉ loay hoay “cải tiến” làm tắt không coi trọng nghiêm ngặt quy trình công nghệ. Đây sẽ là vật cản lớn của quy trình hội nhập.

Cọn người Việt Nam có truyền thông nhiều năm đùm bọc đoàn kết thương yêu nhau trong công trận đánh đấu chống giặc ngoại xâm, thế nhưng trong sản xuất làm ăn lại có tính đố kị làm giảm đi sức mạnh và tính link trong sản xuất.

Con người Yiệt Nam có khả năng thích ứng nhanh điều đó sẽ giúp chúng ta mau chóng hội nhập, song trong hội nhập lại có thái độ cực đoan, thêm vào đó là sự khôn vặt không coi trọng chữ “tín” sẽ làm đối tác phản cảm gây thiệt hại Marketing.


Bài tập 5:
Những nhận xét của tác giả có gì giống và có điểm nào khác với những điều em đã đọc được trong những sách vở lịch sử và văn học? Thái độ của tác giả ra làm sao khi nêu những nhận xét này ?

reply

Giống nhau: đều phân tích và nhận xét giống nhau những điểm mạnh thế mạnh của con người Việt Nam: thông minh, chịu khó, sáng tạo, nhạy bén với cái mới, đoàn kết trong chiến đấu….

không giống nhau: Chuẩn bị hành tranh không chỉ là phân tích tích những điểm mạnh của người Việt Nam mà còn phê phán đề cập đến những khuyết điểm, những hạn chế mà con người Việt Nam còn phạm phải như: thiếu kĩ năng thực hành, đố kị, khôn vặt, thiếu cẩn trọng…

Thái độ của tác giả: thể hiện sự khách quan khoa học trong sự nhìn nhận đánh giá vấn đề.


Bài tập 6:
Trong văn bản, tác giả sử dụng nhiều thành ngữ; tục ngữ. Hãy tìm những thành ngữ, tục ngữ ấy cho biết ý nghĩa sâu sắc, tác dụng của chúng.

reply

Những thành ngữ tác giả sử dụng trong bài viết: “nước đến chân mới nhảy”, “liệu cơm gắp mắm” “trâu buộc ghét trâu ăn” “bóc ngắn cắn dài”,…

Tác dụng: việc sử dụng những thành ngữ làm cho bài viết trở thành sinh động, cụ thể, làm cho vấn đề quan trọng mang tính uyên bác trở thành gần gũi dễ hiểu với đời sống. Đồng thời, cũng khiến bài nghị luận không bị khô khan, khuôn mẫu, giáo điều mà đãy cảm xúc.


Luyện tập

Bài tập 1: Em hãy nêu những dẫn chứng trong thực tiễn xã hội và nhà trường để làm rõ nhận định điểm mạnh điểm yếu của con người Việt Nam

reply

Điểm mạnh:

Thông minh, chịu khó, sáng tạo: đoạt giải cao trong những cuộc thi trí tuệ quốc tế, sáng tạo ra máy móc, thiết bị hỗ trợ nông nghiệp (máy tuốt lạc, thuốc trừ sâu thiên nhiên…)
Yêu thương, đùm bọc lẫn nhau: Giúp đỡ người khó khăn hơn, chương trình từ thiện gây quỹ, chương trình Áo ấm cho em, Ngôi nhà tình nghĩa…
Điểm yếu:

không tồn tại tinh thần kỉ luật, trách nhiệm trong công việc: bệnh lề mề, bệnh đổ lỗi
Khôn vặt: chặt chém khách du lịch, đi trễ về sớm, …

Ảnh minh họa (Nguồn internet)
Ảnh minh họa (Nguồn internet)

5


Bình An

Bài soạn “Chuẩn bị hành trang vào thế kỉ mới” số 5

Câu 1 trang 30 SGK văn 9 tập 2:

Tác giả viết bài nào vào năm 2001, nhân loại vừa bước sang một thế kỉ mới

Bài viết đã nêu lên vấn đề chuẩn bị hành trang vào thế kỉ mới:

  • ý nghĩa sâu sắc thời sự: giang sơn ta đang trong giai đoạn đổi mới, đạt được một số thành tựu đáng kể để bướ vào thế kỉ 21
  • ý nghĩa sâu sắc lâu dài: Với xu thế hội nhập kinh tế toàn cầu thì đây là sự chuẩn bị có ý nghĩa sâu sắc để chúng ta tiến bước cùng trái đất

Những yêu cầu, nhiệm vụ đưa ra cho giang sơn và thế hệ trẻ:

  • Đưa giang sơn thoát ra khỏi tình trạng nghèo nàn, lỗi thời của nền kinh tế nông nghiệp.
  • Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa giang sơn.
  • Tiếp cận ngay với nền kinh tế tri thức


Câu 2 trang 30 SGK văn 9 tập 2:

Dàn ý bài Chuẩn bị hành trang vào thế kỉ mới:

  • Chuẩn bị hành trang vào thế kỉ mới thì sự chuẩn bị bản thân con người là quan trọng nhất
  • Bối cảnh trái đất hiện nay và những mục tiêu của giang sơn
  • Những điểm mạnh, điểm yếu của con người Việt Nam trong thời đại hội nhập

Câu 3 trang 30 SGK văn 9 tập 2:

Trong hành trang vào thế kỷ mới, sự chuẩn bị bản thân con người là quan trọng nhất, chính vì:

  • Con người là nhân tố quyết định sự tồn tại và phát triển của một vương quốc, dân tộc
  • Con người có trang bị cho mình những điều có ích thì mới rất có thể góp phần đưa giang sơn đi lên
  • Trong thời đại hội nhập, vai trò của con người càng quan trọng hơn nữa

Câu 4 trang 30 SGK văn 9 tập 2:

Những điểm mạnh, điểm yếu của con người Việt Nam:

Điểm mạnh:

  • Nhạy bén với cái mới
  • chịu khó sáng tạo
  • Đoàn kết trong chiến đấu
  • Thích ứng nhanh
    => Đáp ứng được yêu cầu sáng tạo, hữu ích cho một nền kinh tế có kỉ luật cao, tận dụng được thời điểm

Điểm yếu:

  • Yếu về kỹ năng và kiến thức cơ bản và khả năng thực hành
  • Thiếu tính tỉ mỉ, thiếu coi trọng quy trình công nghệ
  • Đố kị trong làm ăn kinh tế
  • Kì thị với Marketing
    => Khó thích ứng với nền kinh tế tri thức, không thích hợp với sản xuất lớn, khó khăn trong quy trình Marketing và hội nhập

Câu 5 trang 30 SGK văn 9 tập 2:

Tác giả không ca tụng hay phê phán một chiều mà nhìn nhận ở nhiều mặt, soi xét một cách toàn diện. Ông trân trọng những giá trị truyền thống nhưng cũng không tránh mặt, phê phán thẳng thắn những điểm yếu kém còn mắc phải. Đó là những nhận xét rất khách quan xuất phát từ thực tiễn xã hội hiện tại và lòng mong mỏi thế hệ trẻ rất có thể nhận thức rõ điều đó để đưa giang sơn đi lên

Câu 6 trang 30 SGK văn 9 tập 2:

Trong văn bản, tác giả đã sử dụng khá nhiều thành ngữ, tục ngữ: “nước đến chân mới nhảy”, “trâu buộc ghét trâu ăn”, “liệu cơm gắp mắm”, “bóc ngắn cắn dài”

=> Bài viết thêm sinh động, hấp dẫn, cụ thể và giàu ý nghĩa sâu sắc

Luyện tập Chuẩn bị hành trang vào thế kỉ mới

Câu 1 trang 31 SGK văn 9 tập 2:

Những dẫn chứng trong thực tiễn để làm rõ một số điểm mạnh và điểm yếu của con người Việt Nam:

Một số tấm gương cần học hỏi:

  • Những bác nông dân tự mày mò, ý tưởng phát minh ra máy phun thuốc sâu, máy tưới nước tự động
  • Những tấm gương về sự dũng cảm, hy sinh trong chiến tranh: mẹ Nguyễn Thị Suốt chèo thuyền đưa bộ đội qua sông, chị Võ Thị Sáu, anh La Văn Cầu…

Một số hạn chế còn tồn tại:

  • Người lao động Việt Nam tay nghề còn thấp nên năng suất không tốt
  • Một số tiểu thương sử dụng hàng hóa kém chất lượng, bán hàng fake, hàng nhái
  • những cơ sở sản xuất sử dụng chất cấm để bảo quản thực phẩm
Ảnh minh họa (Nguồn internet)
Ảnh minh họa (Nguồn internet)

6


Bình An

Bài soạn “Chuẩn bị hành trang vào thế kỉ mới” số 6

I. ĐÔI NÉT VỀ TÁC GIẢ, TÁC PHẨM

– Vũ Khoan là nhà hoạt động chính trị, nhiều năm liền là Thứ trưởng Bộ ngoại giao, Bộ trưởng Bộ thương mại, Phó Thủ tướng Chính phủ.

– Bài viết nhan đề Chuẩn bị hành trang đăng trên tạp chí Tia sáng năm 2001 và được in trong tập Một góc nhìn của tri thức, Nhà xuất bản Trẻ, TP. Hồ Chí Minh năm 2002. Tác giả nêu cái mạnh, cái yếu trong tính cách và thói quen của con người Việt Nam với yêu cầu phải cấp tốc khắc phục cái yếu, hình thành những đức tính và thói quen tốt khi giang sơn đi vào công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong thế kỉ mới.

II. GỢl Ý ĐỌC – HIỂU

Câu 1. Thời điểm của tác giả viết này là vào Tết năm Tân Tị 2001, năm mở đầu của thế kỉ XXI và thiên niên kỉ thứ ba, tính từ đầu công nguyên theo dương lịch. Đây là thời điểm rất quan trọng, thời điểm chuyển giao giữa hai thế kỉ, hai thiên niên kỉ. Đây cũng đúng là thời điểm người ta hay muôn nhìn lại, kiểm điểm lại mình trên chặng đường dài đã qua và chuẩn bị hành trang đi tiếp chặng đường mới. Riêng đối với giang sơn ta, dân tộc ta, đây đúng là thời điểm công cuộc đổi mới bắt đầu từ cuối thế kỉ trước đã thu được những thành quả nhất định, đang bước sang thế kỉ mới với những mục tiêu phấn đấu cực kì quan trọng. Đó là thời điểm giải quyết nhiệm vụ cơ bản để trở thành một nước công nghiệp vào nảm 2020. Chính vì thế, bài Chuẩn bị hành trang vào thế kỉ mới này có ý nghĩa sâu sắc rất kịp thời, đúng lúc.

Bài viết đã nêu vấn đề để chuẩn bị hành trang vào thế kỉ mới, thế hệ trẻ Việt Nam chúng ta cần nhận rõ cái mạnh và cái yếu của con người Việt Nam, rèn cho mình những đức tính và thói quen tốt. Ngay trong câu đầu, tác giả nêu ra luận điểm cơ bản này của bài viết. Cũng phải thấy vấn đề tác giả nêu ra không chỉ là có ý nghĩa sâu sắc thời sự nóng bỏng trong thời điểm chuyển giao thế kỉ, mà nó còn có ý nghĩa sâu sắc lâu dài đốì với cả quy trình đi lên của giang sơn ta. chính vì có nhận thức rõ mặt mạnh cũng như mặt yếu của tớ, khắc phục cái yếu đi, phát huy cái mạnh lên, đúng là điều kiện quan trọng thiết yếu để phát triển và không bị tụt hậu, đối với mỗi con người chúng ta hôm nay. Điều đó lại càng cấp thiết hơn nữa khi chúng ta đang thực sự đi vào công cuộc xây dựng, phát triển giang sơn trong xu thế hội nhập, trong nền kinh tế có Xu thế toàn cầu hóa như giờ đây.


Câu 2. Lập dàn ý theo trình tự lập luận của tác giả

a) Trong hành trang vào thế kỉ mới, sự chuẩn bị bản thân con người là quan trọng nhất.

Đây là luận cứ mở ra hướng lập luận cho toàn bài vãn, là luận cứ quan trọng mở đầu cho cả hệ thông luận cứ của bài văn.

Luận cứ này được xác minh bằng những lí lẽ:

– Từ cổ chí kim lúc nào con người cũng là động lực phát triển của lịch sử;

– Trong giai đoạn kinh tế tri thức phát triển thì vai trò của con người lại càng nổi trội.

b) Bối cảnh trái đất hiện nay và những nhiệm vụ nặng nề của giang sơn. Tác giả đã triển khai luận cứ này bằng hai ý:

– Bối cảnh hiện nay là một trái đất mà khoa học công nghệ phát triển như huyền thoại, sự giao thoa, hội nhập ngày càng sâu rộng giữa những nền kinh tế;

– việt nam phải đồng thời giải quyết ba nhiệm vụ: thoát khỏi tình trạng nghìn năm lỗi thời của nền kinh tế nông nghiệp, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đồng thời phải tiếp cận ngay với nền kinh tế tri thức.

c) Những điểm mạnh, điểm yếu của con người Việt Nam được nhận rõ khi bước vào nền kinh tế mới trong thế kỉ mới.

Tác giả đã triển khai cụ thể và phân tích rất thấu đáo luận cứ này vì đây là một luận cứ chủ yếu.

d) Tóm lại: Bước vào thế kỉ mới, mỗi người Việt Nam, đặc biệt là thế hệ trẻ cần phải phát huy những điểm mạnh, khắc phục những điểm yếu, rèn cho mình những thói quen tốt ngay từ những việc nhỏ để đáp ứng nhiệm vụ đưa giang sơn đi vào công nghiệp hóa, hiện đại hóa.

Nhìn chung, hệ thống luận cứ của tác giả có tính chặt chẽ và tính định hướng rất rõ nét.


Câu 3. Trong bài này, tác giả cho rằng: Trong nliững hành trang ấy, có lẽ sự chuẩn bị bản thân con người là quan trọng nhất. Điều này rất xác đáng chính vì:

– Từ xưa đến nay, con người lúc nào cũng là động lực phát triển của lịch sử.

– Nhất là trong giai đoạn nền kinh tế tri thức phát triển mạnh mẽ như hiện nay con người lại càng có vai trò nổi trội.


Câu 4. Tác giả đã nêu ra và phân tích những điểm mạnh, điểm yếu trong tính cách thói quen của con người Việt Nam là:

– Thông minh, nhạy bén với cái mới nhưng thiếu kỹ năng và kiến thức cơ bản, kém khả năng thực hành;

– chịu khó sáng tạo nhưng thiếu đức tính tỉ mỉ, không coi trọng nghiêm ngặt quy trình công nghệ, vẫn chưa quen với cường độ khẩn trương;

– Có tinh thần đoàn kết, nhất là trong công trận đánh đấu chông ngoại xâm nhưng lại thường đố kị nhau trong làm ăn và trong cuộc sống hằng ngày;

– Bản tính thích ứng nhanh, nhưng lại có nhiều hạn chế trong thói quen nếp nghĩ, kì thị trong Marketing, quen với bao cấp, thói sùng ngoại hoặc bài ngoại quá mức, thói “khôn vặt”, ít giữ chữ “tín”.

Không liệt kê giản đơn, tác giả mỗi khi nêu một điểm mạnh lại đề cập một nhược điểm. Đặc biệt là những điểm mạnh, khuyết điểm đó luôn được đặt trong yêu cầu xây dựng và phát triển giang sơn hiện nay.


Câu 5. Em đã được học và đọc nhiều tác phẩm văn học và những bài học lịch sử nói về những phẩm chất truyền thống đẹp đẽ của dân tộc Việt Nam, con người Việt Nam. Nói chung là chỉ thiên về khẳng định những cái hay, cái tốt, cái mạnh, những yếu tố tích cực đáng biểu dương học tập. Bài viết này trái lại, đã mang đến cho người đọc ít nhiều yếu tố bất ngờ. Tác giả không chỉ là có ca tụng, cũng không chỉ là toàn phê phán một cách cực đoan mà đã nhìn nhận vấn đề một cách khách quan, tôn trọng sự thực tức là vừa khẳng định và trân trọng những phẩm chất đẹp đẽ tích cực đồng thời cũng thẳng thắn chỉ ra những mặt yếu kém tiêu cực, không bị rơi vào sự tự cao quá mức hay tự ti, miệt thị dân tộc.


Câu 6. Trong vãn bản này, tác giả sử dụng khá nhiều thành ngữ, tục ngữ “nước đến chân mới nhảy”, “trâu buộc ghét trâu ăn”, “liệu cơm gắp mắm”, “bóc ngắn, cắn dài”… Điều này làm cho bài văn thêm phần cụ thể, sinh động và giàu ý nghĩa sâu sắc.


Ghi nhớ:

– Để chuẩn bị hành trang bước vào thế kỉ mới, thế hệ trẻ Việt Nam cần nhìn rõ cái mạnh và cái yếu của con người Việt Nam, rèn cho mình những đức tính và thói quen tốt.

– Cái mạnh của con người Việt Nam là thông minh, nhạy bén với cái mới, chịu khó sáng tạo, rất đoàn kết đùm bọc nhau trong giai đoạn chống ngoại xâm. Bên cạnh đó cũng đều có nhiều cái yếu cần phải khắc phục: thiếu kỹ năng và kiến thức cơ bản, kém khả năng thực hành, thiếu đức tính tỉ mỉ, không coi trọng nghiêm ngặt quy trình công nghệ, thiếu tính xã hội trong làm ăn.

– Bước vào thế kỉ mới, để đưa giang sơn đi lên, chúng ta cần phát huy những điểm mạnh, khắc phục những điểm yếu, hình thành những thói quen tốt ngay từ những việc nhỏ.

Ảnh minh họa (Nguồn internet)
Ảnh minh họa (Nguồn internet)

Từ khóa: Top 6 Bài soạn “Chuẩn bị hành trang vào thế kỉ mới” của Vũ Khoan lớp 9 hay nhất, Top 6 Bài soạn “Chuẩn bị hành trang vào thế kỉ mới” của Vũ Khoan lớp 9 hay nhất, Top 6 Bài soạn “Chuẩn bị hành trang vào thế kỉ mới” của Vũ Khoan lớp 9 hay nhất

Có thể bạn quan tâm:

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *